nghệ thuật chí phèo

"Nghệ thuật là cái đẹp" - câu trả lời đúng nhưng không đủ. Nghệ thuật có khi là những đường nét man dại thô sơ trên những dụng cụ thời cổ đại. nhà mà không biết đến dáng đi ngật ngưỡng trong cơn say và gương mặt lằn ngang lằn dọc của Chí Phèo trong Bạn đang xem: Soạn bài Chí Phèo - Phần 2.Tác phẩm siêu ngắn hay nhất tại TRƯỜNG ĐH KD & CN Hà Nội Mời các bạn đón đọc bản Soạn bài Chí Phèo Phần 2 Tác phẩm siêu ngắn gọn, đây là phiên bản soạn văn 11 siêu ngắn được các thầy cô biên soạn … Chí Phèo và Thị Nở trong vườn chuối, vẻ khắc khổ của Lão Hạc được dựng thành tượng tại Vườn hiện thực Nam Cao - Vũ Trọng Phụng trong Vườn Nghệ thuật Sông Thương ở Bắc Giang. (Sông Thương Garden) - một địa chỉ du lịch sinh thái, nghệ thuật nằm bên dòng Vay Tiền Nhanh Home. Phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy được sự sáng tạo nghệ thuật mới mẻ và tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam bàiGiới thiệu tác giả, tác phẩmThân bàiPhân tích tâm trạng chí phèo theo luận điểmLuận điểm 1 Chí Phèo trước khi gặp Thị NởLuận điểm 2 Phân tích tâm trạng chí phèo sau khi gặp Thị NởKết luận khi phân tích tâm trạng chí phèoMở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm Trước khi đi vào phân tích tâm trạng chí phèo, việc nắm bắt hoàn cảnh ra đời của tác phẩm sẽ giúp bài văn phân tích thêm sâu sắc. Nhà văn Nam Cao sinh năm 1917, tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở tỉnh Hà Nam. Ông là một trong cây viết nổi bật của nền văn học hiện thực với tưởng nhân đạo sâu sắc cùng sáng tạo nghệ thuật độc đáo. “Chí Phèo” là tác phẩm được đánh giá là kết tinh của tài năng nghệ thuật và cái nhìn hiện thực nhân đạo của Nam Cao. Điểm nhấn của tác phẩm là đã lột tả được diễn biến tâm trạng nhân vật mà khi phân tích tâm trạng chí phèo ta sẽ thấy rõ điều đó. Thân bài Phân tích tâm trạng chí phèo theo luận điểm Luận điểm 1 Chí Phèo trước khi gặp Thị Nở Hình tượng Chí Phèo được xây dựng là nhân vật điển hình cho giai cấp nông dân Việt Nam bị bần cùng hóa và rơi vào tha hóa, thời kỳ trước cách mạng tháng Tám. Dưới ngòi bút tài hoa, sự sáng tạo nghệ thuật và cái nhìn độc đáo, Nam Cao đã vẽ nên bức chân dung Chí Phèo đa diện, có những chuyển biến tâm lý bất ngờ. Phân tích tâm trạng chí phèo trước khi gặp Thị Nỡ ta thấy Chí hiện lên là một kẻ cù bất cù bơ, bị cả làng ghét bỏ. Trước khi bị Bá Kiến đẩy vào tù vì ghen tuông vu vơ, Chí Phèo là một chàng thanh niên hiền lành và lương thiện của làng Vũ Đại. Nhưng rồi, hai thế lực đang kìm kẹp người nông dân lúc này, là xã hội phong kiến cũ mà đại diện là Bá Kiến và chế độ thực dân đã biến Chí Phéo thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Phân tích tâm trạng chí phèo phần đầu tác phẩm ta thấy, về gia cảnh, Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côn khốn khổ, bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ. Chí Phèo được dân làng nuôi và năm hai mươi tuổi thì làm thuê cho nhà Bá Kiến. Chí luôn ôm một giấc mơ giản dị của người nông dân, là cưới vợ sinh con, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Rồi Chí cùng vợ nuôi lợn làm vốn làm liếng, nếu khá giả lên thì mua vào sào ruộng. Rõ ràng, đây chỉ là một ước muốn giản đơn nhất của con người, và nếu ở một xã hội bình thường, cuộc sống này chẳng có gì khó thực hiện. Nhưng rồi cuộc đời bi kịch của Chí Phèo bắt đầu khi bị bá Kiến ghen tuông vu vơ về Chí Phèo và bà Ba. Chí Phèo phải ở tù 8 năm và trong 8 năm ấy, nhà tù thực dân đã biến một thanh niên nông dân hiền lành, chất phác trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, trở thành con quỷ dữ ai cũng e dè. Phân tích tâm trạng chí phèo qua tác phẩm ta thấy, y đã bị cái xã hội nửa thực dân nửa phong kiến cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Về hình dạng của Chí, Nam Cao đặc tả “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm…”. Còn về tính cách, lúc này Chí có thể làm mọi việc của “một thằng đầu bò chính cống”, mà như nhà văn liệt kê Kêu làng, rạch mặt ăn vạ, đập phá, đâm chém… Luận điểm 2 Phân tích tâm trạng chí phèo sau khi gặp Thị Nở Vào cái lúc Chí Phèo đang ngụp lặn, ngạt thở dưới hố sâu của tội ác, tuyệt vọng thì Thị Nở xuất hiện như một “thiên sứ” của cuộc đời Chí. Sau cái đêm Chí gặp Thị Nở bên bờ sông và giữa hai người trải qua cuộc ân ái, hắn tỉnh dậy và thấy lòng bâng khuâng. Trước kia say triền miên, Chí không bao giờ nhận thức được cảm giác của mình. Nhưng lúc này hắn thấy “miệng đắng” và “lòng mơ hồ buồn”. Và dường như đây là lần đầu tiên hăn sợ rượu, “như người ốm sợ cơm”. Phân tích tâm trạng chí phèo ta còn thấy những chuyển biến tâm trạng bất ngờ khác. Đó là hắn nghe thấy được nhưng âm thanh cuộc sống, nào tiếng chim hót, nào tiếng thuyền chài đuổi cá, nào tiếng rì rầm của mấy bà đi chợ. Dù những âm thanh này vẫn diễn ra thường nhật, nhưng nay Chí mới nghe thấy. Vì vậy, nó có ý nghĩa như tiếng chuông thức tỉnh, tiếng gọi tha thiết hay cái lay mình để Chí nhận ra mình đang ước muốn, khao khát điều gì. Mọi tiếng động, âm thanh hay cảm giác của Chí Phèo sau cái đêm gặp Thị Nở, có thể nói là cơn mưa rào đang tưới mát, đang làm dịu dàng lại tâm hồn của một tên quỷ dữ. Nó khiến Chí Phèo nhớ về ước mơ một thời tuổi trẻ của mình. Nhưng cũng chính âm thanh Chí nghe được đã lay tỉnh khiến hắn nhìn thẳng vào thực tại. Thực tại mà ở đó hắn đã già, đã qua bên kia con dốc cuộc đời, nhưng hắn vẫn hoàn toàn cô độc. Phân tích tâm trạng chí phèo ta nhận ra, tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở diễn biến càng phức tạp và nhiều bất ngờ. Nhìn vào thực tại, rồi hắn nghĩ đến tương lai. Nhưng tương lai thật mơ hồ, bởi hắn nhận ra đó là một tương lai “đói rét, ốm đau và cô độc”. Và lúc này, những chuyển biến tâm trạng, Chí Phèo dường như đã không còn là con quỷ dữ, mà đã trở lại năng lực làm người. Diễn biến tâm lý của Chí Phèo thay đổi mạnh mẽ hơn nữa sau khi hắn nhận được bát cháo hành giải rượu từ Thị Nở. Khi thấy bát cháo hành, Chí Phèo hết ngạc nhiên rồi lại thấy “mắt mình như ươn ướt”. Hắn cảm động vì lần đầu tiên trong đời, khi đã đi quá nửa cuộc đời, hắn được một người đàn bà quan tâm, chăm sóc. Phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy còn thấy hắn xúc động là vì đây là “cái cho” đầu tiên của cuộc đời dành cho mình. Bởi xưa nay, để có cái ăn, hắn không phải rạch mặt ăn vạ. Lúc này đây, khi nhận được một “ân tình” của cuộc đời, hắn thấy chạnh lòng bởi cuộc đời bi kịch của mình. Với Chí Phèo, bát cháo hành Thị Nở mang cho là cái ấm áp của tình người, tình thương, mà khốn khổ và tội nghiệp thay bây giờ hắn mới nhận ra. Bát cháo hành đơn giản nhưng nó thấy rất ngon, nhưng hắn cũng tự hỏi mình “sao bây giờ mới được ăn” và ngay lập tức hắn biết vì “có ai nấu cho mà ăn đâu”. Phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy Chí hiện ra là một kẻ cộc độc đến tuyệt đối, không người thân, không tình thương, không sự săn sóc. Ta hiểu rằng, bát cháo hành của Thị Nở đối với Chí Phèo thực sự là liều thuộc giải độc và cũng là biểu tượng của tình người, tình yêu thương. Không những thế, hương vị của bát cháo hành cũng là hương vị của tình yêu lần đầu Chí Phèo được nhận. Nhưng quan trọng hơn, không phải là nước cháo hay lá hành mà chính sự quan tâm chăm sóc ân cần của Thị Nở cùng hương vị của bát cháo, mới giữ vai trò xoa dịu trái tim quỷ dữ bên trong Chí Phèo, làm thức dậy bản năng lương thiện, tính người ở sâu thẳm con người Chí. Và Phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy, trái tim đầy thương tổn, đầy vết xước, đầy cô đơn tuyệt vọng của Chí lúc này được Thị Nở hay nói đúng hơn là tình yêu thương của Thị Nở vá lại, vỗ về. Số phận là ở chỗ, lúc trước vì say nên khi ngã vào Thị Nở, Chí không nhìn ra cái xấu ma chê quỷ hờn, cái dở hơi của Thị, nhưng rồi lúc Chí tỉnh lại Chí chấp nhận cái xấu xí ấy và còn mang lòng yêu. Còn gì có thể khiến người bỏ qua tất cả, khiến con người ta nhìn thấy xấu cũng thành đẹp, ngoài tình yêu. Tình yêu ấy đến với Chí cũng như một cơn say, dù thị bị hắt hủi vì xấu đến đâu thì với hắn, hắn thấy thị có duyên lắm. Chính vì say Thị Nở thật lòng như vậy mà Chí Phèo cảm nhận được hương vị của cuộc sống quanh mình. Qua những chi tiết trên ta thấy, rõ ràng tính thiện của Chí đã trở lại, thể hiện qua hắn nhìn nhận Thị Nở. Trong khoảng thời gian bên nhau, Chí Phèo có lúc hồn nhiên và “thấy lòng mình thành trẻ con” và còn “muốn làm nũng với Thị”. Rồi hắn lại ước trở lại, ước mơ về một gia đình nhỏ của riêng mình. Hắn còn nghĩ “Giá cứ như thế này mãi thì thích nhỉ” và còn nói với Thị Nở “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Trước những chuyển biến tâm lý này của Chí, ta một lần nữa lại khẳng định sức mạnh của tình yêu đối với việc cứu rỗi trái tim con người. Đồng thời ta cũng thấy được cái nhìn nhân đạo của nhà văn hiện thực Nam Cao. Nhưng phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy, cái đỉnh điểm của tâm lý nhân vật là ở chỗ, sau khi ước mơ về gia đình, Chí them lương thiện và muốn làm hòa với mọi người. Hắn khát khao thoát khỏi hình hài lẫn tâm tính của một con quỷ, hắn không muốn là một kẻ rạch mặt ăn vạ nữa. Và những ngày bên Thị Nở, Chí Phèo đã thực sự trở lại làm “con người”, đúng nghĩa. Ngỡ rằng Thị Nở sẽ mãi là “thiên sứ” của cuộc đời Chí. Nhưng rồi định kiến của bà cô Thị hay của chính cái xã hội cũ đã chặt đứt chiếc cầu đưa Chí trở về với con người lương thiện, bởi Thị bị bà cô mắng nhiếc và nhất quyết đoạn tuyệt với Chí. Và Chí Phèo thực sự rơi vào bi kịch một lần nữa, một bi kịch đau đớn hơn hết thảy. Đó là bị cự tuyệt quyền làm một con người lương thiện, hiền lành. Thị Nở xuất hiện trong đời Chí tưởng là ngọn lửa mãnh liệt của hi vọng, nhưng thực ra chỉ là một đốm lửa vừa nhen cháy đã vụt tắt. Hình ảnh Chí “ngẩn người” rồi còn như thấy “thoang thoảng hơi cháo hành” đâu đây, khiến người đọc không khỏi nghẹn lòng, thương cảm. Hương vị bát cháo hành là hương vị của tình yêu như vừa mới đây mà nay đã không còn nắm bắt được. Nhưng đau đớn thay, nó vẫn cứ quanh quẩn và càng làm tăng thêm bi kịch tình của Chí. Cái ngẩn người của Chí là vì thất vọng, chua xót, cay đắng trước hiện thực không gì tuyệt vọng hơn, đó là hắn bị cự tuyệt bị vứt bỏ không chỉ bởi xã hội làng Vũ Đại, mà ngay cả một người đàn bà xấu xí như Thị Nở cũng không coi hắn là một con người. Rồi Chí Phèo khóc. Hắn ôm mặt và khóc rưng rức. Cái tiếng rưng rức ấy là tiếng khóc oan ức, đau đớn, tuyệt vọng. Những giọt nước mắt của Chí là đỉnh điểm của những đớn đau, tủi nhục của kiếp người hắn đang mang. Tuyệt vọng Chí Phèo tìm đến rượu, nhưng lần này hắn càng uống càng tỉnh, bởi ý thức đã trở về từ khi gặp Thị Nở. Bị kịch và căm phẫn thay khi hắn không gửi thấy mùi rượu mà chỉ nghe thầy mùi cháo hành thoang thoảng. Hương vị bát cháo hắn từng được nhận, nhưng chỉ một lần duy nhất trong đời ấy khiến hắn càng chìm trong nỗi khổ đau vôn hạn của thân phận mình. Phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy nút mở của câu chuyện là ở chỗ, Chí uống rượu và vác dao đến nhà thị Nở với quyết định “đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Nhưng bất ngờ nhưng cũng hợp lý đến tài tình, khi Chí đi thẳng đến nhà Bá Kiến. Chí chỉ tay vào mặt tên địa chủ độc ác và đánh thép kết tội. Chí hét lên câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” trước mặt Bá Kiến. Câu hỏi có lẽ không phải chỉ cho Bá Kiến mà cho cả xã hội của làng Vũ Đại. Và đó là câu hỏi chất chứa nỗi phẫn uất, day dứt tâm can người đọc nhất. Nhưng câu hỏi ấy cũng như một lời khẳng định hắn nói với chính mình rằng, chẳng có ai có hắn lương thiện cả. Bởi vậy, hắn giết chết Bá Kiến và tự kết thúc đời mình. Hạnh động trên của Chí Phèo thể hiện người nông dân như Chí đã lâm vào bước đường cùng. Cuộc đời còn nghĩa lý gì không được làm một con người lương thiện. Vậy thì, chỉ có cái chết mới làm cho sự lương thiện của Chí Phèo được hồi sinh. Và cái chết của Chí Phèo là lời tố cáo đanh thép nhất cái xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, đã đẩy những người nông dân hiền lành, chất phác, lương thiện cào con đường bần cùng hóa, lưu manh và đến cuối cùng đẩy họ đến cái chết. Chỉ có xóa bỏ xã hội ấy, diệt bỏ xã hội ấy mới hy vọng những bi kịch cuộc đời như của Chí không xảy ra. Sau khi phân tích tâm trạng chí phèo trong toàn bộ thiên truyện của Nam Cao, ta thấy rõ tư tưởng nhân đạo mà nhà văn gửi gắm. Câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” của Chí Phèo cũng chính là tiếng lòng khẩn thiết, lời kêu cứu của Nam Cao đối rằng hãy trân trọng, bảo vệ và yêu thương con người. Kết luận khi phân tích tâm trạng chí phèo “Chí Phèo” của Nam Cao qua dòng thời gian gần một thế kỉ vẫn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam và trong tâm trí người đọc nhiều thế hệ. Sức hấp dẫn và giá trị của tác phẩm này thể hiện qua nhiều khía cạnh tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, cấu trúc tác phẩm là một vòng tròn khép kín như cuộc đời không lối thoát của Chí Phèo. Qua phân tích tâm trạng chí phèo ta thấy, những diễn biến nội tâm nhân vật này sau khi gặp Thị Nở là một phát hiện nghệ thuật và tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn lột tả nổi đau tột cùng của người nông dân trong xã hội cũ. Đồng thời, tác phẩm chính là tiếng lòng thương cảm, cảm thông và bênh vực đối với những người nông dân mang trái tim lương thiện. Và ông khẳng định một điều rằng, dù trong hoàn cảnh nào, bản tính thiện lương ấy vẫn không bao giờ mất đi. HƯỚNG DẪN TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO - Chí Phèo lúc đầu được Nam Cao đặt tên là Cái lò gạch cũ, khi ra mắt độc giả lần đầu, để “câu khách”, nhà xuất bản tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi in trong tập Đôi lứa xứng đôi, gồm 11 truyện ngắn, NXB Đời mới, Hà Nội, 1941. Sau này, khi in lại trong tập Luống cày Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946, Nam Cao đặt lại tên truyện là Chí Phèo. - Chí Phèo là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nam Cào và được coi là một kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Qua truyện ngắn này, có thể thấy được bút pháp hiện thực độc đáo, mới mẻ và tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Đoạn trích trong SGK tuy đă lược bớt vài đoạn vì truyện quá dài, nhưng người đọc vẫn có thể hình dung được toàn bộ câu chuyện và nắm được tinh thần tác phẩm. NỘI DUNG l. Cuộc đời cùng quẫn của Chí Phèo - Vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không”, Chí Phèo được người làng nhặt về và chuyền tay nhau nuôi, lớn lên Chí đi làm canh điền cho lí Kiến, bị ông lí ghen rồi đẩy vào tù. - Ở tù ra, Chí Phèo biến đổi hẳn, từ một anh nông dân hiền lành, lương thiện, hắn trở thành một kẻ côn đồ cả về tâm tính lẫn ngoại hình “cái đầu thì trọc lốc cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất câng câng”, ngực và cánh tay “đầy những nét chạm trổ” người ta thấy hắn “ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ sáng đến chiều”, và “cứ rượu xong là hắn chửi”, có khi còn “lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt” để “ăn vạ”,... - Một lần đến nhà bá Kiến rạch mặt ăn vạ, Chí Phèo bị ông bá dụ dỗ, giao cho việc đi đòi nợ đội Tảo, từ đó hắn trở thành tay sai đắc lực của bá Kiến. Chí Phèo không ý thức được mình đã biến thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, “làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”, bởi vì hắn làm tất cả những việc người ta sai hắn làm trong lúc say. Mà những cơn say của hắn thì triền miên, không bao giờ chấm dứt, “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say... đập đầu rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say...”. Đến cái mặt của hắn cũng biến đồi, “không còn phải là mặt người nó là mặt một con vật lạ”, nó “vàng vàng mà lại muốn sạm màu gio”, nó “vằn dọc vần ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”. Cuộc đời chí Phèo tiêu biểu cho số phận bi thảm của những người nông dân cùng khố trong xã hội cũ. Thế lực của bọn cường hào ác bá ở thôn quê kết hợp với nhà tù thực dân đã đẩy người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh hoá, dẫn đến sự huỷ hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. 2. Ước muốn được trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo - Cuộc đời Chí Phèo sẽ mãi mãi ngập sâu trong tội ác nếu không có sự gặp gỡ với thị Nở. Giữa người đàn bà đần độn, “xấu ma chê quỷ hờn” và một gã đàn ông “chỉ sống bằng cướp giật và doạ nạt” đã nảy xinh một tình cảm trong sáng nhất của loài người tình yêu. Tình cảm ấy đã thức dậy ở Chí Phèo niềm khao khát về một mái ấm gia đình giản dị, yên bình “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải...”. Chí Phèo và thị Nở đã nhất định lấy nhau để sống một cuộc đời lương thiện như bao nhiêu người khác. - Con đường hoàn lương của Chí Phèo đã gặp ngay trở ngại đầu tiên bà cô của thị Nở. Định kiến về Chí Phèo - “một thằng không cha”, “chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ” - đã khiến bà cô coi việc thị Nở định lấy Chí Phèo là một sự “nhục nhã” không thể chấp nhận được. Bà trút tất cả sự uất ức vào thị Nở. Và thị Nở, trong cơn giận dữ, tìm đến Chí Phèo và “trút vào mặt hắn tất cả lời của bà cô”. - Chí Phèo sửng sốt, hấn uống thật say để đến nhà thị Nở “đâm chết cái con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân quen đường trong cơn say lại đưa hắn đến nhà bá Kiến. Khác với mọi lần, Chí không nhận tiền mà dõng dạc yêu cầu “Tao muốn làm người lương thiện”. Trong cơn say, Chí Phèo vẫn tỉnh táo nhận rạ Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa”. Con đường trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo đã hoàn toàn bế tắc, bằng trực giác, Chí đã nhận đúng mặt kẻ thù, hắn xông vào đâm chết bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nam Cao đã nhận ra ngay trong những con người tưởng như đã mất hết nhân tính vẫn còn le lói chút ánh sáng của lương tri. Mô tả con đường hoàn lương đau đớn, bi kịch không được làm người của Chí Phèo, nhà văn đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đầy sự cảm thông đối với lớp người dưới đấy”. NGHỆ THUẬT 1. Xây dựng tính cách điển hình sắc nét - Nhân vật Chí Phèo Đây là hình tượng thành công nhất của ngòi bút hiện thực Nam Cao. Chí Phèo không chỉ điển hình cho một bộ phận cố nông bị lưu manh hoá mà nhân vật này còn mang ý nghĩa khái quát rộng lớn cuộc đời và số phận của Chí thể hiện một quy luật có tính phổ biến trong xã hội cũ là quy luật bần cùng hoá, rồi đi đến lưu manh hoá của những người dân lành. Trong tác phẩm, Chí Phèo hiện hình thành “con quỷ dữ” chuyên đập phá, kêu gào, chửi bới, rạch mặt ăn vạ với những cơn say triền miên, bất tận... Đó là tính cách riêng của Chí, nhưng con đường tha hoá của Chí Phèo cũng là con đường của những năm Thọ, binh Chức,... trong tác phẩm. Mỗi người một cảnh, họ đều là nạn nhân của bọn cường hào ác bá ở đây là bá Kiến và là sản phẩm của nhà tù thực dân. Còn những thế lực bạo tàn đó thì hiện tượng Chí Phèo vẫn còn tiếp diễn, không phải vô cớ mà tác giả đã nhắc lại hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” ở cuối truyện. Với ngòi bút phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã khắc hoạ thành công hình tượng Chí Phèo, một nhân vật điển hình vừa có tính riêng sinh động vừa mang tính chung phổ biến. Nét đặc sắc riêng của hình tượng Chí Phèo còn được khắc hoạ sâu sắc hơn trong bi kịch của nhân vật. Khi lương tri thức tỉnh, Chí thèm khát được trở lại làm người lương thiện thì lại bị chính cái xã hội của những người lương thiện chối bỏ. Lần đầu tiên, cơn giận dữ của Chí Phèo mang nỗi uất hận đau đớn của một kẻ không được làm người. Sự thức tỉnh của Chí Phèo là một phát hiện sâu sắc, đầy tính nhân đạo của Nam Cao khi xây dựng nhân vật điển hình. - Nhân vật bá Kiến Bên cạnh Chí Phèo, bá Kiến cũng là một tính cách điển hình chân thực và sinh động. Người ta không thể quên được “cái cười Tào Tháo” của cụ bá cùng những toan tính nham hiểm của nhân vật này “Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”. Vừa xảo quyệt, gian hùng vừa đê tiện, bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho lớp cường hào ác bá những đội Tảo, tư Đạm, bát Tùng,... Ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, những kẻ có quyền sinh quyền sát, tha hồ làm mưa làm gió ở làng quê. Có thể nhận ra bàn tay của bá Kiến trong việc xô đẩy người dân lương thiện vào cảnh khốn cùng rồi biến họ thành tay sai gây tai hoạ cho chính những người lương thiện. Bá Kiến và những kẻ như hắn mới thực là “con quỷ dữ” giấu mặt của làng Vũ Đại. Từ tác phẩm, nhưng nhân vật điển hình như Chí Phèo, bá Kiến đã bưởc thẳng vào cuộc sông, tên nhân vật đã trở thành tên gọi chung cho loại người mang tính cách tương tự như nhân vật trong tác phẩm. Điều thú vị là những danh xưng ấy còn tồn tại dai dẳng cho đến ngày nay. 2. Cốt truyện dộc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọc Dù không được kể theo trình tự thời gian nhưng lai lịch và diễn biến cuộc đời của mỗi nhân vật đều được xâu chuỗi rất lôgíc và sinh động các sự kiện trong cuộc đời Chí Phèo được chắp nối qua lời trần thuật và dòng hồi ức rải rác trong truyện. Hầu như mỗi tình tiết đều ẩn chứa rất nhiều sự bất ngờ chỉ mấy lời ngọt nhạt mà bá Kiến đã dẹp yên được sự ăn vạ ầm ĩ của Chí Phèo, có nhiều chi tiết tưởng như ngẫu nhiên nhưng hoá ra lại là những móc xích bên trong nối vào nhau chặt chẽ chi tiết Chí Phèo xăm xăm đến nhà thị Nở nhưng bước chân lại dẫn hắn đến nhà bá Kiến, chi tiết thị Nở liếc nhìn bụng và nghĩ đến “cái lò gạch bỏ không”,.... Hành động quyết liệt của Chí Phèo và cái chết bi thảm của Chí là bước kết thúc bất ngờ nhưng nhất quán với sự phát triển của tính cách nhân vật. 3. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện “Hắn vừa đi vừa chửi...” với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!..J. Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong. So với dung lượng của một truyện ngắn thì đây là một truyện tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu. “Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình. Những cạnh sắc ấy, nếu ông cứ giữ cho nó sắc mãi thì chúng ta có thể tin ở tương lai văn nghiệp ông. Vườn văn Việt Nam thiếu những bông hoa lạ, thiếu những nghệ sĩ táo bạo, thiếu những bản thể đặc biệt.” – Trích lời tựa tuyển tập “Đôi lứa xứng đôi”, nhà văn Lê Văn Trương viết. “Chí Phèo” được nhà văn Nam Cao đặt tên trong bản thảo là “Cái lò gạch cũ”, nhưng có lẽ nhằm gây chú ý cho công chúng đương thời, nhà văn Lê văn Trương khi viết lời tựa cho tập truyện đã đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”. Về sau, khi in lại truyện này trong tuyển tập “Luống cày” tập truyện của 4 tác giả Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân tác giả Nam Cao đổi tên truyện của mình thành “Chí Phèo”. Xem thêm tác phẩm Việt Nam danh tác Tố Tâm Cánh hoa sa mưa Ai hát giữa rừng khuya – Gương mặt lạ trong Việt Nam danh tác Số đỏ Đứa con đáng tự hào của “Ông vua phóng sự đất Bắc” Truyền kì mạn lục Chuyện về người con gái Nam Xương “Chí Phèo” kể về cuộc đời người nông dân lương thiện bị lưu manh hóa. Chí là một đứa trẻ bị bỏ rơi ngay từ lúc lọt lòng, may mắn được người ta nhặt về nuôi rồi trở thành canh điền nhà kỳ mục Bá Kiến ở làng Vũ Đại. Vì ghen mà Bá Kiến đẩy Chí vào ngục giam. Bảy, tám năm sau Chí trở về làng gây sự với kẻ đã khiến mình đi tù, nhưng lại bị viên kỳ mục này lợi dụng, Chí trở thành tay chân của Bá Kiến, trở thành kẻ chuyên nghề đâm thuê chém mướn. Suốt vài chục năm liền Chí chìm trong những cơn say, làm việc ác trong lúc say, đến nổi không biết rằng mình đã trở thành một con quỷ dữ trong làng. Một ngày kia, sau một cuộc rượu say sưa, trên đường về nhà, giữa vườn chuối trên bãi sông, Chí bỗng thấy một người đàn bà. Chí gặp Thị Nở, sau buổi đêm ấy, sau cơn sốt ngày kế tiếp, sau bát cháo hành nghi ngút khói, cuộc đời Chí lần đầu tiên tỉnh táo sau bao nhiêu năm say… Chí thèm lương thiện, nhưng tất cả dường như đã muộn rồi. Câu chuyện xây dựng thành công sự xung đột vô cùng quyết liệt của hai nhóm người thuộc hai tầng lớp trong xã hội thực dân nửa phong kiến nhóm cường hào, vai vế bề trên gồm những Bá Kiến, Lý Cường, Đội Tảo… và nhóm cùng đinh lưu manh hóa gồm những Chí Phèo, Binh Chức, Năm Thọ… Nhóm cường hào cai trị, bòn rút đám đông dân quê, lại cũng cạnh tranh, sát phạt nhau… Chính vì vậy, nhóm cùng đinh lưu manh hóa đã được bọn cường hào sử dụng làm công cụ để trừng trị lẫn nhau và áp chế dân làng. Truyện “Chí Phèo” khái quát một hiện tượng xã hội ở làng quê Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ vẫn luôn cưỡng lại quá trình tha hóa đó, ngay cả khi bị vùi dập nhân hình, nhân tính. “Chí Phèo” là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Ngoài ra cũng rất mới mẻ bởi nghệ thuật ngôn ngữ đặc sắc của Nam Cao. Bằng ngôi thứ ba vô hình, biết tuốt, lời văn như kẻ đứng bên trong nhân vật, hoặc đứng kề nhân vật, khiến cho việc mô tả các biến động tâm lý nhân vật trở nên hết sức sinh động. Những cơn say của Chí Phèo, dòng suy nghĩ của Chí, sự chuyển hướng bất ngờ từ suy nghĩ sang hành động… Tất cả những mảnh vụn đều trở nên liền mạch, có lý, sáng tỏ và dễ hình dung. Truyện “Chí Phèo” hầu như được giới nghiên cứu và giới mộ điệu nhất trí xem là một kiệt tác, đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao, đồng thời là kiệt tác đỉnh cao của văn xuôi tự sự Việt Nam những năm 1930 – 1945. “Chí Phèo” xuất hiện trong bộ môn nghệ thuật thứ bảy cùng với hai tác phẩm khác của Nam Cao là “Sống mòn” và “Lão Hạc”, bằng cái tên “Làng Vũ Đại ngày ấy” được sản xuất năm 1982 bởi đạo diễn, NSND Phạm Văn Khoa. Vai Chí Phèo do NSƯT Bùi Cường đảm nhận – cũng là nhân vật đưa tên tuổi của ông sống mãi với thời gian. “Làng Vũ Đại ngày ấy” là một bộ phim nổi tiếng được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Nghệ thuật thoát ra từ những kiếp lầm than Điểm lại xuyên suốt sự nghiệp văn chương của Nam Cao, có thể khẳng định rằng ông đã luôn giữ được những “cạnh sắc” nguyên sơ như thuở ban đầu. Văn phong, tư tưởng và nghệ thuật của ông được định hình từ rất sớm, có lẽ vì vậy mà kiệt tác “Chí Phèo” đã ra đời ngay từ cuốn sách đầu tay. Tuyển tập truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” là sản phẩm đầu tay của Nam Cao, ra mắt bởi NXB Đời Mới tại Hà Nội vào năm 1941, gồm 7 truyện Đôi lứa xứng đôi Chí Phèo Nguyện vọng Hai khối óc Giờ lột xác Chú Khì người đánh tổ tôm vô hình Ma đưa Cái chết của con Mực Xuất bản trong giai đoạn mà cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra khốc liệt, sự chú ý của người đương thời hầu như đều tập trung vào chiến trận từ châu Á tới châu Âu, có lẽ vì thế mà tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” khá im ắng trong dư luận văn học nghệ thuật thời bấy giờ. Phải gần hai mươi năm sau đó, thời kỳ miền Bắc phục hồi các vết thương chiến tranh, đất Hà thành được hòa bình, các giá trị thực sự trong sáng tác của Nam Cao mới được thừa nhận rộng rãi trong giới sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học. Nếu “Chí Phèo” khai thác đề tài người nông dân bị nhóm cường hào áp bức đến tận cùng, bị lưu manh hóa thành công cụ gieo rắc tội lỗi dẫn đến kết cục đồng quy vô tận để giải thoát bản thân; thì “Nguyện vọng” là sự bế tắc của một nhà giáo nghèo với một mộng tưởng xa vời khi đất nước còn long đong; “Hai khối óc” là tình yêu tuyệt vọng giữa kẻ giàu người nghèo; “Giờ lột xác” là nỗi quằn quại của giới trí thức dưới chế độ cũ, đau đớn của thời kỳ lột xác – mà ánh sáng cách mạng là chất dẫn để thời kỳ đó kết thúc trong niềm hân hoan; “Cái chết của con Mực” cũng là trang viết về nỗi lòng lực bất tòng tâm của người trí thức nghèo trước thời cuộc; riêng hai truyện “Ma đưa” và “Chú Khì người đánh tổ tôm vô hình” thuộc loại truyện ma, trong đó Nam Cao ghi lại những nét thuộc đời sống tâm linh, tâm thức dị đoan của người dân các làng quê thời đấy. Nhân vật chính đều là những “kiếp lầm than” phản ánh đời sống bần hàn của người dân Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Nhật và thực dân Pháp trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thông qua những tấn bi kịch của người nông dân và người trí thức trong xã hội cũ thể hiện trong từng tác phẩm, Nam Cao thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới hai vấn đề lớn của con người là quyền được sống lương thiện và điều kiện để phát huy tài năng để sống một cuộc sống có ích, có ý nghĩa. Nam Cao không chỉ đồng tình với khát vọng sống lương thiện mà còn cổ vũ cho khát vọng được cống hiến, được sáng tạo của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính. Tranh cãi về đề xuất bỏ tác phẩm “Chí Phèo” ra khỏi sách giáo khoa Cuối năm 2017, Nguyễn Sóng Hiền – lúc ấy là nghiên cứu sinh tiến sĩ trường ĐH Newcastle Australia – nêu quan điểm nên đưa tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao ra khỏi chương trình Ngữ Văn 11. Nguyễn Sóng Hiền lập luậnxf “Chí Phèo chẳng đại diện cho ai cả. Anh ta chỉ đơn giản là một đứa trẻ không được giáo dục, bị lưu manh hóa. Nếu nói rằng Chí đại diện cho tầng lớp nông dân bị áp bức thì thật là “tội nghiệp” cho nông dân mình quá. Trong thời gian làm thuê cho Bá Kiến, Chí vẫn được xem là con người trong xã hội ấy, người ta vẫn nhận nuôi Chí, cho ăn, cho công việc. Sau khi bị Bá Kiến đẩy đi tù vì ghen, Chí mới tha hóa. Khi Chí say, Chí chửi người đẻ ra Chí chứ đâu chửi xã hội. Sống trong xã hội hiện đại, một đứa trẻ rơi vào hoàn cảnh ấy, chưa chắc đã có cách xử sự khác hoặc cuộc đời khá khẩm hơn. Đó là một thực tế đau lòng phải chấp nhận. Chí Phèo phải bị phê phán vì hành vi cưỡng bức Thị Nở. Nở là người bị hại, bị Chí lợi dụng lúc ngủ say để cưỡng bức. Vậy thì tại sao chúng ta có thể ghép đôi cho một kẻ lưu manh với cô gái vô tội? Chưa kể sau này, Nở lại mang bầu và lại ôm thêm nỗi khổ vào thân. Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu.” Đọc được tin, bà Trần Thị Hồng con gái nhà văn Nam Cao bày tỏ rằng, bất cứ một tác phẩm văn học nào được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh chắc chắn phải được hội đồng biên soạn mổ xẻ nhiều góc cạnh, cân nhắc kỹ lưỡng, qua nhiều khâu, và tiếp thu ý kiến từ các chuyên gia, các nhà phê bình văn học. “Anh Nguyễn Sóng Hiền nói tác phẩm không có tính giáo dục là ý của cá nhân anh Hiền. Đây là lần đầu tiên gia đình tôi nghe được ý kiến trái chiều về tác phẩm.” – Bà Hồng chia sẻ. Bởi đây là “ý kiến trái chiều” hiếm hoi về tác phẩm được coi là kiệt tác của nền văn học trước năm 1945, từ một người có học thức cao, nên khiến dư luận khá xôn xao ở thời điểm đó. Khách quan thì, bất cứ một tác phẩm văn học kinh điển nào, ngoài giá trị văn học, chúng còn có giá trị lớn lao về mặt lịch sử, “Chí Phèo” cũng không ngoại lệ. Và khi phân tích các tác phẩm đó, cần đặt chúng vào thời gian lịch sử nơi chúng thuộc về, có thế thì mọi giá trị và tư tưởng mới tìm được vị trí đúng sáng. Với “Chí Phèo”, Nam Cao không chỉ viết về một cuộc đời bị lưu manh hóa và quá trình cưỡng lại sự phi nhân hóa đó, mà còn vẽ lại cả một thế hệ, một xã hội với những tầng lớp, những đau khổ mà người dân Việt Nam phải chịu đựng dưới ách thống trị thực dân, thấu được những điểm mù lịch sử, học sinh thời nay sẽ hơn bao giờ hết cảm thấy biết ơn Cách mạng Tháng Tám, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vì nền hòa bình hiện tại đến nhường nào. Đây là một trong những giá trị giáo dục. “Chí là kẻ xấu” ? Không. Chí luôn khát khao thiện lương và thèm được thiện lương. Chí chỉ rạch mặt, chỉ ăn vạ, chỉ đáng sợ… khi Chí say, khi men rượu kiểm soát hành vi, Chí trở thành kẻ liều. “Thế đấy cái nghề đời hiền quá cũng hóa ngu, ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được.” Cái xã hội mà công lý nằm trong tay kẻ có quyền và kẻ mạnh, đã ép buộc Chí phải trở thành kẻ liều. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân, đời không cho Chí có cơ hội làm anh hùng, thì Chí phải liều mới có thể được sống. Chí Phèo là nhân vật của thời đại, là hình tượng đáng thương của người nông dân vốn thiện lương dưới chế độ thực dân nửa phong kiến bị ép vào đường cùng, đó là quy luật “con giun xéo mãi cũng quằn.” Đây là một trong những giá trị nhân đạo. Nam Cao là nhà văn hiện thực kiệt xuất, đồng thời là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Chủ nghĩa nhân đạo lấy con người làm gốc, con người với tất cả mọi nhu cầu chính đáng, năng lực trần thế và hiện thực. Nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học, cây bút biên dịch thông tin văn học nghệ thuật Lại Nguyên Ân viết “Điều đáng kể là Nam Cao không chỉ mô tả những nông dân lưu manh hóa như những con người bị tha hóa, mất nhân tính, trở thành những công cụ gieo rắc tội lỗi, gieo rắc sự kinh hoàng vào đời sống làng quê. Ở nhân vật Chí Phèo, như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, Nam Cao đã cho thấy cả xu thế tha hóa, vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân lưu manh hóa, lại cũng cho thấy cả sự cưỡng lại quá trình vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân ấy. Việc Chí Phèo đến nhà Bá Kiến đòi “được làm người lương thiện”, rồi biết rằng không thể nào xóa đi những tội lỗi mình từng gây ra theo lệnh viên kỳ mục ấy, Chí xông đến giết lão rồi tự sát – hành vi ấy được nhiều nhà nghiên cứu xem như biểu hiện sự cưỡng chống quyết liệt trước xu thế tha hóa ấy của người nông dân, của con người nói chung.” PGS Đỗ Ngọc Thống, Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới, thẳng thắn cho rằng quan điểm đưa tác phẩm Chí Phèo ra khỏi sách Ngữ văn lớp 11 của nghiên cứu sinh Nguyễn Sóng Hiền, là không đáng bàn. Vài nét về Nam Cao Nam Cao 1917 – 1951 tên thật là Trần Hữu Tri, không những là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ XX, mà còn là một chiến sĩ, liệt sĩ. Trước Cách mạng, ông là nhà văn hiện thực lớn. Sau Cách mạng, ông là một nhà báo kháng chiến. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX. Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết. Các tác phẩm của nhà văn Nam Cao nói chung, trong tuyển tập truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” nói riêng, điển hình là “Chí Phèo”, thuộc dòng văn học hiện thực mang hơi thở của thời đại, có giá trị văn học, lịch sử, giáo dục và nhân đạo vô cùng to lớn trong kho tàng văn học nước nhà. Quan điểm sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng Trước Cách mạng, Nam Cao có hai quan điểm sáng tác chính. Một là, văn chương phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Hai là, văn chương cần sáng tạo. Giao thoa giữa hai quan điểm ấy, văn chương phải phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống, nhà văn cần phải sáng tạo dựa trên trách nhiệm và thiên chức của người cầm bút. “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than.” – Trích “Giăng sáng” 1942 – Nam Cao. Ở tập truyện ngắn đầu tay này, Nam Cao tập trung khám phá xã hội làng quê người Việt, cụ thể là làng xã miền Bắc, nơi mà sự phân tầng xã hội đã chia thành những nhóm người, những loại người, từ những dân làng vô danh, người nông dân, nhà giáo nghèo, viên chức nhỏ đến bọn cường hào, địa chủ… mà nhân vật chính thường là người nông dân và người trí thức nghèo. Những nhân vật trong văn của Nam Cao đều rất đời, được lấy cảm hứng từ chính những con người mà ông từng tiếp xúc. Link mua sách Fahasa Shopee Tiki Lazada Duyên Nếu bạn thấy bài viết này hay, xin ủng hộ team bằng cách dành thêm một giây để click vào quảng cáo. Chỉ 1s thôi, nhưng là cách tuyệt vời để duy trì blog mãi mãi

nghệ thuật chí phèo